Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Xôi cốm Kiều Mộc

Xôi cốm Kiều Mộc

Làng Kiều Mộc thuộc Tổng Mộc Hoàn xưa, nay thuộc xã Cổ Đô, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây có đặc sản xôi cốm nổi tiếng xứ Đoài.

Xôi cốm Kiều Mộc là thứ đặc sản dùng biếu người già, thông gia tỏ lòng thơm thảo, tinh tế của người Kiều Mộc.

Thời bao cấp, lương thực hiếm hoi, bữa cơm thường nhật độn sắn, độn khoai, xôi cốm Kiều Mộc chỉ được nhắc đến, nhớ đến như một niềm hoài cổ.

Bây giờ cái ăn, cái mặc đã đủ đầy, ở làng văn hóa Kiều Mộc, lại có đặc sản xôi cốm bày trong mâm cơm mới cúng Thành hoàng, trong các kỳ lễ trọng, tết nhất.

Để làm xôi cốm không có thứ gạo nếp nào ngon bằng giống nếp cái hoa vàng. Khi lúa nếp vào hạt trắc xanh, người ta chọn cắt từng bông bó lại thành "cụm" đem về nhà dùng bát úp chuốt hạt rời bông (lúc ấy lúa còn "non" nếu đập sẽ bị nát, bị dập, mất hết sữa gạo).

Sau khi gạn bỏ những hạt thóc lép người ta cho lúa vào luộc cho chín rồi đem phơi nắng cho khô, tiếp đó cho vào cối giã tách vỏ trấu. Khi ấy gạo nếp cái hoa vàng có màu xanh ngà, dài dẹt thơm mùi sữa gạo.

Nếu đem gạo ấy rang lên, tẩm thêm hương vị sẽ thành loại cốm rang, cốm bay dân dã thường thấy bày bán ở một vài nơi. Đằng này người Kiều Mộc lấy thứ gạo ấy để làm xôi cốm.

Thoạt đầu gạo được ngâm nước ấm chừng nửa tiếng rồi vớt vào rá để cho ráo nước. Sau đó, gạo được ngâm trong nước củ gừng, lá gừng tươi và lá bồng bồng (lá nếp) giã nhỏ để tăng thêm hương vị và tạo màu xanh lục mịn màng. Gạo được ủ chừng một hai tiếng đồng hồ rồi đem đồ cách thuỷ.

Mùi thơm của gạo nếp non quyện với vị gừng, hương lá nếp tạo nên một mùi thơm quyến rũ, ngon lành đặc trưng của xôi cốm Kiều Mộc.



   Khác với cốm rang, cốm cánh chuồn, được bày bán nhiều nơi, xôi cốm Kiều Mộc chỉ  có vào dịp cúng cơm mới và Thành hoàng làng là Ất Linh Lang đại vương, một trong số năm mươi người con theo mẹ Âu Cơ sinh sống trên đất Phong Châu, có công giúp Kiều Mộc trở nên một dải bát ngát lúa ngô.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Exciting racing terrain in Dong Mo SonTay HaNoi

Racing Offroad Vietnam terrain Cup 2 nd in 2011 with the participation of 40 teams from all over the country officially kicks off in two June 25 - 26 / 6 at the Cultural Village - travel ethnic Vietnamese Dong Mo, Son Tay,  Hanoi.The contest aims to raise the technical ability to drive over terrain for all subjects like sports cars Vietnam terrain, and selecting athletes to foster high achievement for the award fighting in the region and internationally. Compared to the competition last year, this year's competition the participants are driving investment and more prepared, the competing teams are divided in three class are: Class Basic, Professional Sales and professional (class skills shown riding Vietnamese highest field of the steering wheel).List of Vietnam Offroad team won two Cups in 2011.
Amateur class:
First Prize (vehicle number 303) Club team helpless.Second Prize (vehicle number 332) Saigon Offroad team.Third Prize (335 cars) Willys Tuandang team.

  A half professional Rank:
First Prize (vehicle number 320) on the night the team rating.Second Prize (vehicle number 339) pain team.Third Prize (vehicle number 324) TVC1 team.

Professional Rank:

Champion Prize (vehicle number 338) Offroad Team Refbacks teams.Second Prize (vehicle number 321) Auto Huylinh team.
 Photos show:

The passion for challenges



Hò dzô ta nào





Dirty lady








 According to: http://langvietonline.vn/The-Thao/119579/Soi-dong-dua-xe-dia-hinh-tai-Dong-Mo.html

Quạt giấy - The fan made by paper

Thousands of fans used to landscape display at the festival, exhibitions, public recreation or as a souvenir ... aesthetic value are urgently improved to keep up with welcoming visitors. Not only is the job for a living, art career as a fan of the family group are also contributing a unique culture of the countryside to Doai every Lunar New Year, Spring on.
Thousands of fans used to landscape display at the festival, exhibitions, public recreation or as a souvenir ... aesthetic value are urgently improved to keep up with welcoming visitors. Not only is the job for a living, art career as a fan of the family group are also contributing a unique culture of the countryside to Doai every Lunar New Year, Spring on.
British delegation, said his family is the only household in the village He also held career as a fan of art bequeathed by his father.
Make fan art requires a sophisticated, picky than the normal fan. From selecting bamboo, mixed ink to the fan perspective must be selected carefully calculated.
Tre doing is staring old bamboo, straight at the eyes for both woven bone ductility that fans are still sturdy, sure, when pasted cloth and paper to also be soft, more fitting. The most difficult stage in art is drawing fans to decorate the page. Each fan art typically have widths from 1.8 to 3.5 m requires drawing on silk, or paper to the real harmony, unique in the landscape with bold spirit native land of Vietnam.
The landscape is typically chosen so that the historical and cultural, images or peaceful village atmosphere where a warm welcome Tet idyllic ... Career as a very sophisticated, but for low interest rates, many families in the village this fan has quit or just do the kind of paper fans, fan nan family household but his team remains faithful to pursue career as a fan. He said: "My father has over 80 year old artist as well as fans, just hope to keep the job for the children not only work but also kept a unique culture of the craftsmen here "Click here to enlargeFor many years, thousands of fans by his family art production team was on display, introducing or as souvenirs, food lists menu at many exhibitions, festivals and entertainment district and some famous hotels such as the Exhibition of Culture and Arts to celebrate the 60th anniversary of establishment of the People's Army of Vietnam, Hung Temple Festival, Festival tourism village of Vietnam, Vietnam Airlines Airline. ..

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2011

Bốn ngôi chùa đẹp tuyệt ở xứ Đoài

Xứ Đoài nay thuộc về Hà Nội nhưng vẫn phảng phất đâu đây dấu ấn riêng của vùng đất cổ - đất phật với hệ thống chùa chiền độc đáo.

Xin giới thiệu 4 ngôi chùa đẹp, nằm khá gần nhau và rất thuận tiện cho việc thăm quan, thưởng lãm của du khách khi đến xứ này:

Chùa Trầm

Chùa tọa lạc trên một diện tích chỉ trên dưới 50m2 trên núi Trầm (hay còn gọi là Tử Trầm Sơn), thuộc địa phận xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, cách trung tâm Thủ đô khoảng 25 km.


Xưa kia toàn bộ khu núi Trầm là nơi vua Lê, chúa Trịnh đặt hành cung. Núi Tử Trầm có chùa Hang được xây dựng trong động Long Tiên dưới chân Tử Trầm Sơn với những pho tượng đá, văn bia khắc trên vách động, trống đá, khánh đá... ; có hang Long Tiên Động rất lớn và bàn thờ Phật bên trong. Ở đây có đường lên đỉnh núi gọi là đường lên Trời và đường xuống hang sâu gọi là đường xuống Âm phủ. Gần đó lại có chùa Võ Vi.

Chùa Trầm được xây dựng năm Ất Hợi (1515) do Trần Văn Tăng, một tướng quân xuất gia đi giảng đạo, khởi xướng. Hiện ở núi Trầm còn một bia đá khắc bài thơ của Trần Văn Tăng viết bằng chữ Nôm: “Sơn Đông chi bằng Vô Vi phật tự/Thùy kỳ huyền sư đạo sĩ/Bên này Thiên Trúc nọ Bồng Lai/Đem cảnh thanh u đặt giữa trời/Trang điểm đã nhờ ơn đạo sĩ/Độ đời còn độ Đức Như Lai/Mượn nền đá phẳng đề dăm bận/Sẵn quả chuông kêu đấm mấy hồi/Cảnh vị vị người, người lai lại/Đã vô vi khéo cũng lôi thôi”.

Chùa Trăm Gian


Chùa còn có tên gọi là Quảng Nghiêm tự hay chùa Tiên Lữ, nằm trên một quả đồi cao khoảng 50m, ở thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Chùa được lập từ đời Lý Cao Tông nhà Lý, niên hiệu Trinh Phù thứ 10, 1185. Đến thời nhà Trần, có hòa thượng Bình An, quê ở Bối Khê tu ở đây, tương truyền là người có nhiều phép lạ. Sau khi ông mất, dân làng xây tháp để giữ gìn hài cốt và tôn gọi là Đức Thánh Bối. Ngôi chùa lớn với quy mô như hiện nay là đã được trùng tu và xây dựng thêm qua nhiều thời đại.

Ở sân chùa có gác chuông hai tầng tám mái được dựng vào năm Quý Dậu 1693, niên hiệu Chính Hòa, đời Lê Hy Tông, là một công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao. Chùa còn giữ được nhiều di vật và tượng quý. Trăm gian, cái tên rất bình dân, dường như muốn nói lên vẻ bề thế của ngôi chùa.

Hiện nay, chùa Trăm Gian thu hút hàng trăm ngàn lượt khách gần xa đền tham quan hàng năm và đang được tu bổ xây dụng lại ao sen, gác chuông và 100 gian chùa để đón tiếp đồng bào gần xa đến tham quan. Chùa Trăm Gian được bộ văn hoá thông tin chứng nhận di tích lịch sử quốc gia.

Chùa Thầy


Chùa Thầy là một ngôi chùa ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ, nay là xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô khoảng 20km về phía Tây Nam, đi theo đường cao tốc Láng - Hòa Lạc.

Sài Sơn có tên Nôm là núi Thầy, nên chùa được gọi là chùa Thầy. Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý. Đây là nơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, lúc này, núi Thầy còn gọi là núi Phật tích.

Ban đầu chùa Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương Hải am, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh trụ trì. Vua Lý Nhân Tông đã cho xây dựng lại gồm hai cụm chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự). Đầu thế kỷ 17, Dĩnh Quận Công cùng hoàng tộc chăm lo việc trùng tu, xây dựng điện Phật, điện Thánh; sau đó là nhà hậu, nhà bia, gác chuông. Theo thuyết phong thủy, chùa được xây dựng trên thế đất hình con rồng. Phía trước chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng chùa và bên phải dựa vào núi Sài Sơn. Chùa quay mặt về hướng Nam, trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao Rồng). Sân có hàm rồng.

Phần chính của chùa Thầy gồm ba tòa song song với nhau gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Giữa chùa Hạ và chùa Trung có ống muống nối với nhau, tạo thành thế hạ công thượng nhất...

Chùa Tây Phương


Chùa có tên chữ là Sùng Phúc tự, nằm trên ngọn núi Tây Phương ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

Có tài liệu cho rằng, chùa được xây dựng vào thời nhà Mạc, vì đầu thế kỷ 17 vào những năm 30, chùa đã phải sửa chữa lớn, hơn nữa trong chùa còn hai tấm bia đều bị mờ hết chữ nhưng còn đọc được rõ tên bia ở mặt ngoài là Tín thí và Tây Phương sơn Sùng Phúc tự thạch bi (mặt bia kia áp vào tường hồi toà chùa giữa nên không đọc được), các hoa văn trang trí thuộc phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ 16 sang đầu thế kỷ 17.

Năm 1632, vào đời vua Lê Thần Tông, chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian. Khoảng những năm 1657-1682, Tây Đô Vương Trịnh Tạc lại cho phá chùa cũ, xây lại chùa mới và tam quan. Đến năm 1794, dưới thời nhà Tây Sơn, chùa lại được đại tu hoàn toàn với tên mới là "Tây Phương Cổ Tự" và hình dáng kiến trúc còn để lại như ngày nay.